Dịch

Friday, 31 March 2017

Đông trùng hạ thảo


Đông trùng hạ thảo là một loại đông dược quý có bản chất là dạng ký sinh của loài nấm.



Tên gọi "đông trùng hạ thảo" (tiếng Tạng: yartsa gunbu hay yatsa gunbu, tiếng Trung: 冬虫夏草, dōng chóng xià cǎo) là xuất phát từ quan sát thực tế khi thấy vào mùa hè nấm Ophiocordyceps sinensis mọc chồi từ đầu con sâu nhô lên khỏi mặt đất. Vào mùa đông thì nhìn cặp cá thể này giống con sâu (côn trùng), còn đến mùa hè thì chúng trông giống một loài thực vật (thảo mộc) hơn.

Ophiocordyceps sinensis thuộc nhóm nấm Ascomycetes trên cơ thể ấu trùng của một vài loài bướm trong chi Thitarodes Viette,Phần dược tính của thuốc đã được chứng minh là do các chất chiết xuất từ nấm Ophiocordyceps sinensis. Nó được sử dụng từ lâu trong y học cổ truyền Trung Hoa và y học cổ truyền Tây Tạng

Đông trùng hạ thảo chủ yếu tìm thấy vào mùa hè vùng núi cao trên 4.000m ở cao nguyên Thanh Tạng (Thanh Hải-Tây Tạng) và Tứ Xuyên (Trung Quốc). Tuy nhiên, hiện nay nhiều loài nấm thuộc chi Ophiocordyceps và Cordyceps được nuôi trồng trên quy mô công nghiệp để tinh chế các cơ chất có dược tính.

Đông trùng hạ thảo khi còn sống, người ta có thể trông rõ hình con sâu, với đuôi là một cành nhỏ, mọc lá. Khi sấy khô, nó có mùi tanh như cá, đốt lên có mùi thơm. Phần "lá" hình dạng giống ngón tay, dài khoảng 4 – 11 cm do sợi nấm mọc dính liền vào đầu sâu non mà thành. Đầu sâu non giống như con tằm, dài chừng 3–5 cm, đường kính khoảng 0,3 - 0,8 cm. Bên ngoài có màu vàng sẫm hoặc nâu vàng với khoảng 20-30 vằn khía, vằn khía ở gần đầu nhỏ hơn. Phần đầu có màu nâu đỏ, đuôi giống như đuôi con tằm, có tất cả 8 cặp chân, nhưng 4 đôi ở giữa là rõ nhất. Chất đệm nấm hình que cong mọc ra từ mình sâu non, dài hơn sâu non một chút. Sâu non dễ bẻ gãy, ruột bên trong căng đầy, màu trắng hơi vàng; chất đệm nấm khá dai và bên trong ruột hơi rỗng, có màu trắng ngà.

Thành phần Đông trùng hạ thảo


Các phân tích hoá học cho thấy trong sinh khối của đông trùng hạ thảo có 17 axít amin khác nhau, có D-mannitol, có lipit, có nhiều nguyên tố vi lượng (Al, Si, K, Na v.v..). Quan trọng hơn là trong sinh khối đông trùng hạ thảo có nhiều chất hoạt động sinh học mà các nhà khoa học đang phát hiện dần dần ra nhờ các tiến bộ của ngành hoá học các hợp chất tự nhiên. Nhiều hoạt chất này có giá trị dược liệu cao. Trong đó phải kể đến axít cordiceptic, cordycepin, adenosin, hydroxyethyl-adenosin. Đáng chú ý hơn cả là nhóm hoạt chất HEAA (Hydroxy-Etyl-Adenosin- Analogs). Đông trùng hạ thảo còn có chứa nhiều loại vitamin (trong 100 g đông trùng hạ thảo có 0,12 g vitamin B12; 29,19 mg vitamin A; 116,03 mg vitamin C, ngoài ra còn có vitamin B2 (riboflavin), vitamin E, vitamin K...)

Công dụng Đông trùng hạ thảo


Theo các ghi chép về đông dược cổ, đông trùng hạ thảo là một vị thuốc bồi bổ hết sức quý giá, có tác dụng tích cực với các bệnh như thận hư, liệt dương, di tinh, đau lưng mỏi gối, ho hen do phế hư hoặc cả phế, thận đều hư, và có tác dụng tốt đối với trẻ em chậm lớn.

Đông trùng hạ thảo  là một trong những vị thuốc quý của đông y, được khai thác khó khăn, có khả năng bồi bổ và tăng cường sức khỏe, cải thiện đời sống tình dục, tăng cường khả năng miễn dịch. Mặt khác các nghiên cứu cổ truyền cũng như các thực nghiệm hiện đại đều xác định đông trùng hạ thảo hầu như không có tác dụng phụ đối với cơ thể người và động vật. [cần dẫn nguồn] Liều uống Đông trùng hạ thảo an toàn đối với chuột thí nghiệm là trên 45g/1 kg thể trọng.

Sử dụng Đông trùng hạ thảo

Tuỳ theo từng bài thuốc mà đông trùng hạ thảo tham gia, người ta có các chế biến nó khác nhau. Phổ biển nhất là hầm lên hoặc ngâm rượu. Cần phải phân biệt loại đông trùng hạ thảo dùng trong đông y và các chất có dược tính được tinh chế từ các chi nấm Cordyceps được nuôi trồng trên quy mô công nghiệp.


Share:

Thursday, 12 November 2015

Những loại thảo dược tốt cho phụ nữ mang thai:



Gừng




Là một loại gia vị hỗ trợ tiêu hóa rất tốt. Thai phụ sử dụng gừng để tránh tình trạng nôn mửa và rối loạn tiêu hóa. Để sử dụng được hiệu quả nhất, thai phụ nên hỏi ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.

Gừng còn là Thảo dược giúp giải rượu, giảm đau đầu.



Tảo bẹ




Tảo bẹ giàu vitamin và khoáng chất giúp điều chỉnh hoạt động tuyến giáp. Nếu bạn bị bệnh về tuyến giáp, hãy hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa để có giải pháp chữa trị an toàn nhất.



Cỏ linh lăng

Loại thảo dược này rất giàu dinh dưỡng như canxi, sắt, carotene và vitamin C. Trong thời gian mang thai, uống trà cỏ linh lăng sẽ cung cấp nguồn khoáng chất và vitamin. Đặc biệt, cỏ linh lăng rất giàu vitamin K, một chất làm đông máu. Thức ăn giàu vitamin K có thể giảm nguy cơ dẫn đến chứng xuất huyết trong.



Loại thảo dược này có hương vị rất êm dịu và tốt cho phụ nữ mang thai. Nó giúp trấn an tinh thần, giảm căng thẳng và tăng cường thư giãn. Làm hạn chế tăng huyết áp và rối loạn tiêu hóa.

Yến mạch




Yến mạch đặc biệt giàu canxi và magie, hai loại khoáng chất quan trọng cho phụ nữ mang thai. Nó cũng có tác dụng trấn an và thư giãn.

Cây mâm xôi




Trong tất cả các loại thảo dược cho bà bầu thì cây mâm xôi được dùng nhiều nhất vì nó nuôi dưỡng các cơ của tử cung bằng cách hỗ trợ dạ con co bóp được hiệu quả hơn trong quá trình sinh nở. Loại thảo dược này giàu vitamin và khoáng chất như canxi, sắt và vitamin nhóm B, đồng thời nó cũng hỗ trợ rất nhiều cho phụ nữ mang thai, sau khi sinh và mang lại nhiều sữa cho phụ nữ trong quá trình cho con bú.

Cây tầm ma




Loại thảo dược này cũng rất giàu vitamin và khoáng chất đặc biệt là sắt. Các mẹ trong thời kỳ mang bầu và cho con bú rất cần hấp thụ chất sắt. Nên sử dụng loại thảo dược này khi cơ thể cần một hàm lượng sắt lớn.

Những bài thuốc từ cây mã đề



Hoa cúc




Loài hoa này rất tốt cho phụ nữ mang thai nhưng không nên uống quá nhiều. Một cốc trà hoa cúc có thể giúp nâng cao tinh thần và trấn an hệ thần kinh. Nó cũng giúp thai phụ tránh được các chứng rối loạn tiêu hóa. Loại thảo dược này giàu canxi và có đặc tính chống viêm nhiễm.

Cây bồ công anh




Lá và rễ của loại cây này đều được sử dụng. Bồ công anh chứa hàm lượng vitamin và khoáng chất cao. Lá cây dùng để tăng cường chức năng thận và loại bỏ lượng nước dư thừa giúp lợi tiểu. Phần rễ có tác dụng đặc biệt hơn với gan. Bồ công anh rất bổ cho gan và an toàn cho phụ nữ mang thai nhưng hãy nhớ là không nên sử dụng với lượng lớn trong thời gian quá dài mà không có hướng dẫn của bác sĩ.

Theo HealthNet
Share:

Wednesday, 14 October 2015

Kiến thức về vị thuốc Câu kỷ tử

http://www.vinahealth.net/2015/10/cau-ky-tu-tuoi-ong-goi-453-g-cua-hang.html

Tên Hán Việt :


Vị thuốc câu KỶ TỬ CÒN GỌI Cẩu kế tử (Nhĩ Nhã), Cẩu cúc tử (Bản Thảo Diễn Nghĩa), Khổ kỷ tử (Thi Sơ), Điềm thái tử (Bản Thảo Đồ Kinh), Thiên tinh tử (Bảo Phát), Địa cốt tử, Địa tiết tử (Bản Kinh), Địa tiên tử (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Khước lão tử, Dương nhủ tử, Tiên nhân trượng tử, Tây vương mẫu trượng tử, Cẩu kỵ tử, (Biệt Lục), Xích bảo, Linh bàng tử, Nhị thi lục, Tam thi lục, Thạch nạp cương, Thanh tinh tử, Minh nhãn thảo tử, Tuyết áp san hô (Hòa Hán Dược Khảo).

Tên khoa học:

Fructus Lycii.

Thuộc họ Cà (Solanaceae).

Mô tả:

Là cây bụi mọc đứng, phân cành nhiều, cao 0,5-1,5m. Cành mảnh, thỉnh thoảng có gai ngắn mọc ở kẽ lá. Lá nguyên nhẵn, mọc cách, một số mọc vòng, cuống lá ngắn, phiến lá hình mũi mác, hẹp đầu ở gốc. Hoa nhỏ mọc đơn độc ở kẽ lá hoặc có một số hoa mọc chụm lại. Đài nhẵn, hình chuông, có 3-4 thùy hình trái xoan nhọn, xẻ đến tận giữa ống. Tràng màu tím đỏ, hình phễu, chia 5 thùy hình trái xoan tù, có lông ở mép. Nhị 5, chỉ nhị hình chỉ đính ở đỉnh của ống tràng, dài hơn tràng. Bầu có 2 ô, vòi nhụy nhẵn dài bằng nhụy, đầu nhụy chẻ đôi. Quả mọng hình trứng, khi chín màu đỏ sầm, hoặc vàng đỏ. Hạt nhiều hình thân dẹp. Ra hoa từ tháng 6-9, có quả từ tháng 7-10.

Địa lý:

Trồng nhiều ở Trung Quốc  như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam.

Phần dùng làm thuốc: Dùng quả khô rụng (Fructus Lycii).


Mô tả dược liệu:

Quả khô Câu kỷ tử hình bầu dục dài khoảng 0,5-1cm, đường kính khoảng hơn 0,2cm. Vỏ quả màu tím đỏ hoặc đỏ tươi, mặt ngoài nhăn teo bên trong có nhiều hạt hình tạng thận màu vàng, có một đầu có vết của cuống quả, không mùi, vị ngọt hơi chua, sau khi nếm nước bọt có màu vàng hồng. Loại sản xuất ở Cam túc có quả tròn dài, hạt ít, vị ngọt là loại tốt nhất nên gọi là Cam kỷ tử hay Cam câu kỷ (Dược Tài Học).

Thu hái, sơ chế:

Hái quả hàng năm vào tháng 8-9, phơi khô. Khi quả chín đỏ hái vào sáng sớm hoặc chiều mát, trải mỏng, phơi trong râm mát cho đến khi bắt đầu nhăn mới phơi chỗ nắng nhiều cho đến khi thật khô.

Bào chế:

+ Lựa thứ quả đỏ tươi, tẩm rượu vừa đều để một hôm, gĩa dập dùng.

+ Thường dùng sống, có khi tẩm rượu sấy khô, hoặc tẩm mật rồi sắc lấy nước đặc, sấy nhẹ cho khô, đem tán bột mịn.

Bảo quản:

Đựng vào lọ kín để nơi khô ráo, nếu bị thâm đen đem xông diêm sinh hoặc phun rượu, xóc lên sẽ trở lại màu đỏ đẹp

Thành phần hóa học:

+ Thành phần chủ yếu có Betain, nhiều loại axit amin, polysaccharid, vltamin B1, B2, C, acid nicotinic, Ca, P, Fe.. . (Trung Dược Học).

+Trong Kỷ tử có chừng 0,09% chất Betain (C5H11O2N) (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trong 100g quả có 3,96mg Caroten, 150mg Canxi, 6,7mg P, 3,4mg sắt, 3mg Vit C, 1, 7mg axit nicotic, 0,23mg Amon sunfat (Từ Quốc Quân và Triệu Thủ Huấn)

+ Trong Khởi tử có Lysin, Cholin, Betain, 2,2% chất béo và 4,6% chất Protein, Acid cyanhydric và có thể có Atropin (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

+ Carotene, Thiameme, Riboflavin, Vitamin C, b-Sitosterol, Linoleic acid (Chinese Herbal Medicine).

+ Betain (Nishiyama R, C A 1965, 63 (4): 4660).

+ Valine, Glutamine, Asparagine (Nishiyama R, C A 1963, 59 (11): 13113b).

+ Trong 100g Câu kỷ tử có Carotene 3,39mg, Thiamine 0,23g, Riboflavine 0,33mg, Nicotinic acid 1,7mg, Vitamin C 3mg (Từ Quốc Quân, Dược Tài Học, Bắc Kinh 1960: 513).

Tác dụng dược lý:


1. Thuốc có tác dụng tăng cường miễn dịch không đặc hiệu. Trên súc vật thực nghiệm có tác dụng tàng cường khả năng thực bào của hệ lưới nội mô, kết quả nghiên cứu gần đây cho biết Kỷ tử có tác dụng nâng cao khả năng thực bào của tế bào đại thực bào, tăng hoạt lực của enzym dung khuẩn của huyết thanh, tăng số lượng và hiệu giá kháng thể, chứng tỏ Kỷ tử có tác dụng tăng cường tính miễn dịch của cơ thể, thành phần có tác dụng là Polysaccharide Kỷ tử (Trung Dược Học).

2. Thuốc có tác dụng tăng cường chức năng tạo máu của chuột nhắt (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Chất Betain là chất kích thích sinh vật, cho vào thức ăn cho gà ăn có tác dụng tăng trọng và đẻ trứng nhiều hơn, cũng làm cho chuột nhắt tăng trọng rõ (Trung Dược Học).

+ Thuốc có tác dụng hạ Cholesterol của chuột cống, chất Betain của thuốc có tác dụng bảo vệ gan chống thoái hóa mỡ, hạ đường huyết (Trung Dược Học).

+ Chất chiết xuất nước của thuốc có tác dụng hạ huyết áp ức chế tim, hưng phấn ruột (tác dụng như Cholin). Chất Betain không có tác dụng này (Trung Dược Học).

6. Nước sắc Kỷ tử có tác dụng hưng phấn tử cung cô lập của thỏ (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Thuốc có tác dụng ức chế ung thư đối với chuột nhắt S180. Các học giả Nhật Bản có báo cáo năm 1979 là lá và quả Kỷ tử có tác dụng ức chế tế bào ung thư trong ống nghiệm (Trung Dược Học).

+ Các tác giả Trung Quốc trên thực nghiệm cũng phát hiện thuốc (lá, quả và cuống quả của Kỷ tử (vùng Ninh Hạ) có tác dụng ức chế ở mức độ khác nhau hai loại tế bào ung thư ở người (Trung Dược Học).

Tính vị:

+ Tính hơi hàn, không độc (Danh Y Biệt Lục).

+ Vị ngọt, tính bình (Dược Tính Bản Thảo).

+ Vị hàn, không độc (Thực Liệu Bản Thảo).

+ Vị ngọt, tính bình (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Vị ngọt, tính bình (Trung Dược Học).

Qui kinh:

+ Vào kinh túc Thiếu âm Thận, túc Quyết âm Can (Bản Thảo Hối Ngôn).

+ Vào kinh túc thiếu âm Thận, thủ Thiếu âm tâm (Bản Thảo Kinh Giải).

+ Vào kinh Can, Thận, Phế (Trung Dược Học).

+ Vào kinh Can, Thận (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Trị mắt đỏ, mắt sinh mộc thịt: Câu kỷ gĩa nát lấy nước, điểm 3-4 lần vào khóe mắt, rất hiệu nghiệm (Trửu Hậu Phương).

+ Trị mặt nám, da mặt sần sùi: Câu kỷ 10 cân, Sinh địa 3 cân, tán bột, uống 1 muỗng với rượu nóng, ngày uống 3 lần, uống lâu da đẹp như con nít (Thánh Huệ Phương).

+ Trị chảy nước mắt do Can hư: Câu kỷ tử 960g bọc trong túi lụa ngâm trong rượu, đậy thật kín, 21 ngày sau uống (Long Mộc Luận).

+ Trị Can Thận âm hư, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, mắt mờ, hoa mắt, hoặc đau rít sáp trong mắt: Câu kỷ tử, Cúc hoa mỗi thứ 12g, Thục địa 16g, Sơn dược mỗi thứ 8g, Phục linh, Đơn bì, Trạch tả mỗi thứ 6g. Tán bột trộn làm viên. Mỗi lần uống 12g ngày 2 lần, với nước muối nhạt (Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn – Cảnh Nhạc Toàn Thư).

+ Trị suy nhược vào mùa hè, không chịu nổi với thời tiết: Câu kỷ tử, Ngũ vị tử, tán bột pha nước sôi uống thay trà (Nhiếp Sinh Chúng Diệu Phương).

+ Trị suy nhược, thận hư, hoa mắt, mắt mộng thịt: Cam câu kỷ tử 1 cân, ngâm cho thấm với rượu ngon rồi chia làm 4 phần, 1 phần sao với 40g Thục tiêu, 1 phần sao với 40g Tiểu hồi hương, 1 phần sao với 40g Chi ma (mè), 1 phần sao với Câu kỷ không thôi. Thêm Thục địa, Bạch truật, Bạch phục linh mỗi thứ 40g, tán bột, luyện mật làm viên uống hằng ngày (Tứ Thần Hoàn - Thụy Trúc Đường Kinh Nghiệm Phương).

+ Trị gan viêm mạn tính, gan xơ do âm hư: Bắc sa sâm 12g, Mạch môn 12g, Đưung qui 12g, Kỷ tử 12-24g, Sinh địa 24-40g, Xuyên luyện tử 6g, sắc nước uống (Nhất Quán Tiễn - Liễu Châu Y Thoại)

+ Trị suy nhược, thận hư, lưng đau, gối mỏi, Di tinh, huyết trắng nhiều: Thục địa 320g, Sơn dược (sao) 160g, Câu kỷ tử 160g, Sơn thù nhục 160g, Ngưu tất 120g, Thỏ ty tử 160g, Lộc giao (sao) 160g, Quy bản (sao) 160g, tán bột, trộn mật làm hoàn. Mỗi lần uống 12-16g, ngày 2-3 lần (Tả Quy Hoàn – Cảnh Nhạc Toàn Thư).

+ Trị hoa mắt, thị lực giảm sút, cườm mắt tuổi gìa, thủy tinh thể dục: Thục địa 320g, Sơn thù 1690, Sơn dược 160g, Đơn bì 80g, Trạch tả 80g, Phục linh 80g, Cúc hoa 120g, Câu kỷ tử 120g. Tán bột, trộn với mật làm hoàn, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 10-12g (Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn - Y Cấp) .

+ Câu kỷ tử, Thục địa, Ngũ vị tử, Mạch môn đông, Địa cốt bì, Thanh hoa, Miết giáp, Ngưu tất trị âm hư lao nhiệt nóng bức rứt âm ỉ trong xương, hoặc muốn dùng làm thuốc chính để trị phát sốt, lạnh thì thêm Thiên môn đông, Bách bộ, Tỳ bà diệp, có thể trị được cả chứng ho do âm hư, phế nhiệt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Câu kỷ tử, hái những quả chín đỏ hằng ngày, tẩm giấm, rượu,rồi lấy giấy sáp phong niêm kín lại đừng làm cho bay hơi đủ hai tháng đổ vào chậu khuấy nhừ nát lọc lấy nước rồi ngâm với rượu. Sau đó cho vào nồi bạc nấu lửa liu riu nhỏ, đồng thời quấy luôn để khỏi dính và đều cho tới khi thành cao như Mạch nha, cuối cùng bỏ vào bình sạch đậy kỹ, mỗi buổi sáng uống mỗi lần 2 muỗng canh lớn, trước khi đi ngủ, liên tục trong 100 ngày mới thấy mạnh khỏe (Kim Tủy Tiễn - Kinh Nghiệm Phương).

+ Câu kỷ tử 2 thăng, vào ngày Nhâm quý tháng 10 giờ Dần, đứng quay về hướng đông mà hái rồi lấy rượu tốt 2 thăng ngâm trong bình sứ 21 ngày xong cho vào 3 thăng nước cốt Sinh địa trộn đều, niêm lại cho thật kín, Đến ngày 30 trước tiết Lập xuân mở bình, uống một chén hâm nóng lúc bụng đói, đến sau tiết lập xuân râu tóc bạc thì cũng biến thành đen. Cấm ăn hành, tỏi, su hào (Câu Kỷ Tử - Kinh nghiệm phương).

+ Trị hoa mắt, thị lực giảm sút, cườm mắt tuổi gìa, thủy tinh thể dục: Cúc hoa 8g, Kỷ tử 20g, Nhục thung dung 12g, Ba kích thiên 8g, sắc nước uống (Cúc Thanh Thang - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trị nam giới sinh dục suy yếu (vô sinh): Mỗi tối nhai 15g Câu kỷ tử, liên tục 1 tháng, thường sau khi tinh dịch trở lại bình thường, uống thêm 1 tháng. Trong thời gian uống thuốc, kiêng phòng dục. Đã trị 42 ca, sau 1 liệu trình: hồi phục bình thường 23 ca, sau 2 tháng bình thường 10 ca, có 6 ca không có kết quả vì không có tinh trùng, 3 ca không kết quả, theo dõi sau 2 năm, tinh dịch trở lại bình thường, 3 ca đã có con (Đông Đức Vệ và cộng sự, ‘Kỷ Tử Trị vô sinh Nam Giới’, Tân Trung Tạp Chí 1987, 2: 92)

+ Trị dạ dầy viêm teo mạn tính: Dùng Kỷ tử rửa sạch, sao khô, giă nát, đóng gói. Mỗi ngày uống 20g, chia làm 2 lần lúc bụng đói và nhai uống, 2 tháng là một liệu trình. Trong thời gian uống thuốc, ngưng tất cả các loại thuốc khác. Đã trị 20 ca, theo dõi 2- 4 tháng, có kết quả tốt 15 ca, có kết quả 5 ca (Trần Thiệu Dung và cộng sự, ‘Báo Cáo 20 Ca Dạ Dầy Viêm Teo Mạn Tính Điều Trị Bằng Câu Kỷ Tử,’ Trung Y Tạp Chí 1987, 2: 92).

+ Trị thận hư, tinh thiếu, lưng đau, vùng thắt lưng đau mỏi: Câu kỷ tử, Hoàng tinh, 2 vị bằng nhau, tán bột, luyện mật làm viên, mỗi lần 12g, ngày uống 2 lần với nước nóng (Câu Kỷ Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)..

+ Trị Can hư sinh ra bệnh ở mắt, ra gió chảy nước mắt: Câu kỷ tử, dùng rượu ngâm sau 3-7 ngày, mỗi lần uống 1-2 muỗng canh, ngày 2 lần (Câu Kỷ Tửu - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Tham khảo:

+ Câu kỷ tử có tác dụng bổ tinh khí, bổ suy nhược làm cho người xinh tươi hồng hào, sáng rõ tai mắt, yên thần định chí sống lâu (Bản Thảo Dược Tính).

+ Câu kỷ tử làm cứng mạnh gân xương, sống dai lâu gìa, trừ phòng phong bệnh bổ hư lao, ích tinh khí (Thực Liệu Bản Thảo).

+ Câu kỷ tử chữa được những bệnh ở tim, ọe khan đau tim, đau họng khát nước vì thận có bệnh cho nên hay làm nên chứng tiêu khát (Thang Dịch Bản Thảo).

+ Câu kỷ tử có tính giúp cho thận, nhuận được phế, dùng nó ép lấy dầu thắp sáng đèn làm sáng mắt (Bản Thảo Cương Mục).

+ Câu kỷ tử có vị cay vừa, khí ấm vừa và mát, tính có thể lên xuống được, vị nặng nên hay bổ âm nhưng tính của nó là âm trong có dương nên cổ được khí. Xét cho đúng thì nó chỉ xét cho dương một phần nào thôi, chứ không có tính cách kích động nên những người biết dùng thì dùng để tiếp thêm sức cho Thục địa là đúng. Còn vấn đề công dụng của nó thì có thể làm cho thông minh tai mắt, yên ổn tâm thần tăng thêm tinh tủy, cứng mạnh gân xương, bù đắp vào những chỗ bất túc nhất là lao thương quá độ. Vì vậy khi mà thận khí đã đầy đủ thì chứng tiêu khát không còn nữa, còn những người bị chân âm suy tổn mà đau ở sau lưng dưới rốn, mê man dùng nó thì công hiệu (Cảnh Nhạc Toàn Thư).

+ Câu kỷ tử có vị ngọt tính bình là vị thuốc chính của Thận, vì vậy mà bổ Thận ích tinh, khi Thận thủy đã mạnh thì gân xương rắn chắc vững vàng nên chứng tiêu khát lui cả, còn những chứng mắt mờ, tai điếc, lưng đau, chân yếu cũng theo đó mà biến mất (Bản Thảo Thông Nguyên).

+ Đi xa ngàn dặm thì không nên dùng Câu kỷ tử vì nó bổ thận quá cho nên kích thích đến tình dục, nó có khí bình không nóng, nó có tác dụng bổ thận chế hỏa, công hiệu như Thục địa nhưng chỉ tiếc khí nóng bứt rứt trong xương muốn trừ nó mà chưa từng dùng được (Danh Y Biệt Lục).

+ Câu kỷ tử vị ngọt mát tính nhuận, các sách ghi rằng có tác dụng khu phong, minh mục, mạnh gân xương, bổ tinh, tráng dương. Xét đúng ra thì Thận thủy suy thiếu uống vào có tính cam nhuận thì âm phải theo dương mà sinh trưởng. Khi Thận thủy đã đầy đủ thì tự nhiên phong sẽ bị tán ngay, vì thế nó có tác dụng làm sáng được tai mắt, cứng xương, mạnh gân. Đó lại càng chứng minh rằng Câu kỷ tử là một vị thuốc tư thủy, do đó mà các sách đều cho rằng nó có tác dụng chữa được tiêu khát. Ngày nay thấy nó sắc đỏ mà tưởng lầm là thuốc bổ dương thì quá sai lầm. Tại sao không biết rằng những thứ đã gọi là khí hàn thì có bao giờ mà bổ dương được? Nếu cứ cho sắc đỏ đó là bổ dương thì Hồng hoa, Tử thảo thì sắc nó cũng đỏ mà có ai quả quyết là thuốc bổ dương đâu, có kẻ lại cho rằng tính nó hoạt huyết. Than ôi! đạo làm thầy thuốc mà không rành, chỉ hạn hẹp trong mấy cuốn sách, nghĩ quẩn quanh, cái gì còn hồ nghi phải gắng sức nghiên cứu cho tới đầu tới đuôi. Nói chung quy chỉ vì xem sách không tinh, định câu không rõ nghĩa không thể nhận xét mà lý hội cho đến cùng, chỉ biết một đoạn nào đó thì biết làm sao được! Chẳng hạn những bệnh thuộc hư hàn mà dám dùng nó thì chuyện xảy ra chẳng những không thể bổ được phần dương mà hư lại càng hư thêm rồi sinh ra những chứng tiêu chảy không cầm được, có khi tới chết. Đó chính là sai một ly đi một dặm nó biến chuyển nhanh như thế, sao lại cho rằng dùng thuốc không cần cẩn thận lắm cũng được vậy mà? (Bản Thảo Cầu Chân).

+ Câu tử có vị ngọt đắng tính lạnh, nhập vào kinh Can và Thận, có tác dụng bổ âm tráng thủy, tưới nhuần được cho Can, thanh trừ được phong độc. Nhờ được tính đắng mát cho nên Tỳ dễ tiết, với những dạng người có bệnh Tỳ thổ khô táo, táo bón mới nên dùng nó; Với nhưng người có thủy hàn khô thấp, trường vị hoạt tiết, tiêu lỏng, tiêu sệt luôn thì không nên dùng nó vì có thể sinh ra tiêu chảy. Nếu ai gọi nó là thuốc trợ dương khí là sai hoàn toàn (Trường Sa Dược Giải).

+ Dùng với Thục địa là rất hay, thuốc làm sáng mắt, thính tai, ích tinh, cố tủy, kiện cốt, cường cân, chuyên bổ lao thương, chỉ tiêu khát, chân âm hư mà bụng rốn đau không khỏi, dùng nhiều rất hay (Cảnh Nhạc Toàn Thư').

+ Câu kỷ tử chuyên bổ huyết, không thuốc nào hơn (Trùng Khánh Đường Tùy Bút).

+ Câu kỷ tử cảm khí xuân hàn của trời, lại được cả khí xung hòa của đất để sinh ra, vị nó ngọt, tính bình cho nên là vị thuốc chính có công năng chuyên bổ cho chân âm của Can và Thận. Họ Đào nói: Xa nhà ngàn dặm chớ ăn Câu kỷ tử, ý nói sức cường dương của nó đó thôi (Dược Phẩm Vậng Yếu).

+ Tục truyền ngày xưa cây này mùa xuân gọi là Thiên tinh tử, mùa hè gọi là Câu kỷ diệp, mùa thu gọi là Khước lão, mùa đông gọi là Địa cốt bì (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Câu kỷ tử còn cho lá và ngọn gọi là Câu kỷ hành diệp, có vị đắng, tính lạnh, không độc, thường nấu với thịt dê ăn bổ, có tác dụng trừ phong, sáng mắt. Có thể thay trà để uống, công dụng chỉ khát, hết bứt rứt, nóng nảy, bổ sinh dục, giải độc của miến. Nó rất ghét sữa tô. Lấy nước cốt của nó nhỏ vào mắt có tác dụng trừ mộng thịt ở mắt, màng đỏ ở mắt, choáng váng, hoa mắt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Cây còn cho mầm gọi là Câu kỷ miêu có vị đắng tính lạnh, có tác dụng trừ phiền, ích chí, khu phong, minh mục, tiêu nhiệt độc, tán sang thủy (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Dùng hạt Câu kỷ tử loại ở Cam châu nấu chín, gĩa nát, trộn với men gạo hoặc lấy hạt Câu kỷ cùng với Sinh địa hoàng chế thành rượu uống gọi là rượu Câu kỷ (Câu Kỷ Tửu). Dùng hạt Câu kỷ trộn gạo nấu cháo có tác dụng bổ tinh huyết, ích thận khí, thiếu huyết, thận suy dùng rất tốt gọi là Câu kỷ tử chúc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Loại Câu kỷ ở Cam châu, Trung Quốc có màu đỏ thịt dẻo, ít hột là thứ tốt nhất (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Câu kỷ, hột của nó gọi là Câu kỷ tử, rễ gọi là Địa cốt bì. Rễ có vị đắng hơn, tính hàn hơn, còn hột thì ngọt nhiều, đắng ít. Công dụng của hai thứ này có khác nhau. Câu kỷ tử là thuốc tư bổ Thận âm, Địa cốt bì là thuốc trị chứng nóng âm ỉ trong xương (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Phân biệt:


(1) Ở Việt Nam không có loại Lycium chinensis Miller, mà có cây Câu kỷ (Lycium ruthanicum Murray) cùng họ trên đó là cây cỏ, cành có gai. Lá nguyên mọc so le. Hoa tím nhạt mọc ở kẽ lá. Quả hình trứng thuôn, khi chín màu đỏ, có nhiều hạt. Cây được trồng nhiều nơi làm rau ăn và làm thuốc. Trồng bằng cành hoặc hạt vào mùa xuân, chỉ dùng lá nấu canh và chữa ho. Có khi quả chín đỏ được dùng thay thế Khởi tử, Vỏ rễ làm Địa cốt bì, không đúng với cây trên, cần phải nghiên cứu lại.

(2) Vị này cho vỏ rễ của cây (Cortex lycii Chinensis) gọi là Địa cốt bì (Danh Từ Dược Học Đông Y).

https://docs.google.com/document/d/1yswQXV_9_s4N2_cYQCl4-auTGvw4F9Oe5ZvxPasXGA4/pub


Tham khảo:

Câu kỷ tử– Dâu Goji Berries

Câu kỷ tử tươi đóng gói 453 g của hãng Healthwork

RƯỢU THUỐC CÂU KỶ SƠN

Kỷ tử - Linh đan chuyên chữa bệnh về mắt

Đơn thuốc từ câu kỷ tử

Câu kỷ tử– Goji Berries
CÂU KỶ TỬ
Share:

Sunday, 20 September 2015

8 Lý do nên ăn rau thì là

Cây thì là (hoặc thìa là) là thảo mộc thơm ngon chứa nhiều vitamin C cần thiết cho những hoạt động của hệ thống miễn dịch, đồng thời bảo vệ các động mạch khỏi lão hóa.

Dưới đây là một số lợi ích sức khỏe của loại thảo dược kỳ diệu này:

1. Tăng cường hệ miễn dịch

Cây thì là chứa nhiều vitamin C cần thiết cho những hoạt động của hệ thống miễn dịch, đồng thời bảo vệ các động mạch khỏi lão hóa.




2. Giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim


Hạt thì là chứa một nguồn axit folic rất dồi dào. Axit này giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, cần thiết cho sự phân chia các tế bào cơ thể cũng như quá trình tiêu thụ các axit amin và đường.

3. Điều trị bệnh ứ nước


Hạt thì là giúp cơ thể điều trị bệnh ứ nước (ở một số cơ quan trong cơ thể), giúp loại bỏ các chất độc hại ra khỏi cơ thể. Bên cạnh đó, chúng cũng rất hữu ích trong điều trị viêm khớp và tích tụ mỡ.

4. Chữa trầm cảm


Ngoài những lợi ích về thể chất, hạt thì là cũng là một giải pháp tuyệt vời để khắc phục bệnh trầm cảm, lo âu và rối loạn tâm trí.

5. Chữa bệnh dạ dày


Hạt cây thì là giúp làm giảm các cơn đau liên quan đến hệ thống tiêu hóa, rất hữu ích cho những người mắc hội chứng về đường ruột. Đây cũng là một vị thuốc tuyệt vời để khắc phục các triệu chứng đau dạ dày và đầy hơi.

6. Giảm cân


Hạt thì là là thực phẩm lý tưởng trong việc giảm cân. Nó rất hữu ích cho những người đang tìm kiếm giải pháp giải độc cơ thể và giảm béo. Đây được xem là phương thuốc lợi tiểu tự nhiên, giúp cơ thể thải bỏ lượng nước dư thừa, có lợi cho quá trình giảm cân.

7. Loại bỏ các gốc tự do


Hạt thì là chứa hàm lượng cao chất chống oxy hóa, yếu tố cần thiết để loại các gốc tự do ra khỏi cơ thể. Do đó, chúng ngăn ngừa được nhiều căn bệnh nghiêm trọng.

8. Có lợi cho người cai nghiện

Là một tác nhân giải độc tuyệt vời, hạt thì là rất hữu ích cho quá trình cai nghiện. Với nguồn chất xơ dồi dào, nó đem lại nhiều lợi ích cho cơ thể. Thì là chứa nhiều vitamin B, magie, canxi và kali, nếu đang tìm kiếm các khoáng chất thiết yếu cho chế độ ăn uống, bạn có thể đưa thì là vào trong bữa ăn. Dù với cách dùng thế nào, pha uống như trà, cây thuốc hay bất cứ cách nào, bạn vẫn có được lợi ích từ những thuộc tính của nó. Tuy nhiên, một nguyên tắc cần nhớ là đừng nên ăn quá nhiều.

Thi Trân (theo Mag for women)
Share:

Wednesday, 10 June 2015

Cyclamen - Hoa anh thảo



Anh thảo trong tiếng Việt thường gọi có tên khoa học là Cyclamen. Chi này trước đây cũng thuộc về họ Primulaceae, nhưng nay đã được chuyển sang họ Xay (Myrsinaceae) cùng bộ.
Các tên gọi: anh thảo, tiên khách lai, hoa tai thỏ, hải đường rau cải, viôlet Ba Tư. 
Trong Wikipedia dùng tên gọi tiên khách lai cho chi này. 
Trong tên gọi của chi Oenothera thuộc họ Anh thảo chiều hay họ Liễu diệp thái (Onagraceae), bộ Đào kim nương (Myrtales). Các tên gọi: anh thảo chiều, nguyệt kiến thảo, đãi tiêu thảo.
Share:

Monday, 4 May 2015

Làm Vườn


Cách trồng cà chua



Khác với việc đi mua ngoài chợ, khi tự trồng cà chua tại nhà bạn có cơ hội lựa chọn trồng những giống cà chua có hương vị lạ hơn, ngon và chất lượng hơn loại thông thường. Chưa kể đến chúng ta không thể biết những người trồng cà chua họ phun lên cây những chất hóa học gì để làm cho cây sai quả, quả không sâu. 1) Chuẩn bị : - Chậu trồng cây: Cà chua là một loại cây phát triển mạnh mẽ, vì thế bạn nên chọn loại chậu có kích thước lớn, nếu bạn...


READ MORE:

Kỹ Thuật Trồng Cây, Làm Vườn, rau củ quả, rau mầm, rau sạch



Share:

Friday, 27 September 2013

Giải pháp Ericsson Radio Dot System



Tối hôm qua 25/9, Ericssson đã công bố giải pháp Ericsson Radio Dot System. Đây được xem là một bước đột phá cho thị trường “small cell”.

Đây là giải pháp cung cấp kết nối băng rộng di động và dịch vụ thoại chất lượng cao trong tòa nhà, giải quyết hiệu quả những thách thức hiện tại về việc cung cấp vùng phủ sóng trong tòa nhà. Sản phẩm này là kết quả của hai năm nghiên cứu, tổng hợp của 14 bằng sáng chế.





Hiện tại, hơn 70% lưu lượng di động xuất phát từ những khu vực bên trong các tòa nhà. Tòa nhà quy mô nhỏ hoặc quy mô lớn đều đã có giải pháp riêng biệt là Pico/Femto hoặc Distributed Antenna System (DAS). Tuy nhiên, do giải pháp DAS được thiết kế chỉ để phục vụ vùng phủ sóng cho các dịch vụ thoại, nên không thể đáp ứng được yêu cầu tương lai. Vì vậy, khi ra đời, Ericsson Radio Dot System được đánh giá là công nghệ đầu tiên cung cấp vùng phủ linh hoạt cho các quy mô tòa nhà khác nhau. Giải pháp này sẽ giúp giải quyết thách thức lớn của tương lai khi lưu lượng dữ liệu di động sẽ tăng gấp 12 lần vào năm 2018.

Hệ thống này sử dụng một thành phần anten, gọi là radio dot, đúng như một dấu chấm, có khả năng cung cấp băng rộng di động tốc độ cao. Các “dots” được kết nối và cấp nguồn qua cáp internet LAN (category 5/6/7) đến khối “radio unit” của một trạm phát sóng, tái sử dụng ngay hệ thống cáp mạng LAN hiện có trong tòa nhà. Một cell có thể cung cấp vùng phủ sóng cho cả một tầng hoặc nhiều cells kết hợp sẽ giúp nâng cao công suất. Nó có thể tùy chỉnh công suất để phục vụ nhu cầu của người dùng ở bất cứ đâu trong tòa nhà. Sản phẩm này nặng 300g, có thể nằm vừa trong lòng bàn tay. Được thiết kế giảm thiểu diện tích, sản phẩm này có hình đĩa, trông gần giống một thiết bị báo cháy. Nó 100% tương thích % và tích hợp được với cơ sở hạ tầng của mạng di động hiện tại.

Thời gian lắp đặt giải pháp này nhanh hơn các giải pháp hiện tại tới 70% và giảm được chi phí cáp tới 60%.

Giải pháp này bạn có thể xem video dưới đây:








Giám đốc Lĩnh vực thiết bị hạ tầng viễn thông của Ericsson, ông Johan Wibergh cho biết “Giải pháp này được đánh giá là tối ưu nhất về chi phí và đảm bảo giải quyết những thách thức trong việc cung cấp vùng phủ sóng trong tòa nhà. Kích thước rất nhỏ nhưng lại có thể điều chỉnh để đạt được công suất rất lớn. Nó dễ lắp đặt, hiệu quả lâu dài trong tương lai và 100% tích hợp với hệ thống mạng di động hiện tại”.


Dot ở hành lang cầu thang


Sản phẩm này thu hút sự quan tâm của các nhà mạng ở Mỹ. Kris Rinne, Phó chủ tịch cấp cao của AT&T cho rằng “Small cells là lĩnh vực quan trọng nhằm nâng cao chất lượng Internet di động. Có nhiều trở ngại về công nghệ và vận chuyển trong việc cung cấp tốt giải pháp kết nối di động trong tòa nhà. Giải pháp này là một công cụ mới để AT&T lựa chọn sử dụng trong tương lai.”


Dot ở những chiếc ghế ở khu vực hội họp - gặp gỡ


Ken Rehbehn, Chuyên gia cao cấp Yankee Group cho biết: “Sản phẩm này nhỏ gọn, tập trung chủ yếu vào tính năng của radio nhằm giảm bớt việc kết nối bằng dây, bớt đi chi phí lắp đặt. Vì được xây dựng trên nền tảng cấu trúc Radio cơ bản của Ericsson, nó cung cấp các tính năng mở rộng và vẫn đáp ứng được những tiến hóa mới về công nghệ tương lai”.

Sản phẩm này dự kiến sẽ có mặt trên thị trường vào cuối năm 2014.

Minh Anh

Ảnh:






Share:

Bài viết ngoài

Nguon Tin Viet

Viet Advertising